Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2015

Ý Nghĩa Phía Sau Lời Tuyên Bố Của Tướng Phạm Trường Long

Tham khảo
Kýgai:  Bài này nên sửa lại tựa đề là :  Win - Win   Hai bên cùng thắng 
            Hay là : Một kết quả sau chuyến Tây du của TCB. 
Posted by adminbasam on 18/10/2015
Lê Minh Nguyên
18-10-2015

Hôm 17/10/2015 tướng Phạm Trường Long, Phó Chủ Tịch Uỷ Ban Quân Sự Trung Ương của Đảng CSTQ, phát biểu trong bài diễn văn tại Diễn Đàn Hương Sơn ở Bắc Kinh.
“Chúng tôi sẽ không bao giờ sử dụng vũ lực một cách cẩu thả, ngay cả trong các vấn đề chủ quyền, và đã làm hết sức để tránh xung đột bất ngờ”.
Ông nói thêm “[Những hòn đảo đó] sẽ không phương hại tới tự do hàng hải ở Biển Nam Trung Hoa, mà thay vào đó, nó làm cho chúng tôi có thể cung cấp những dịch vụ công cộng tốt hơn cho hoạt động hàng hải và sản xuất”.
Diễn Đàn Hương Sơn do TQ chủ xướng, mở hội nghị ở Bắc Kinh với sự tham dự của các bộ trưởng quốc phòng thuộc Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) mà trong đó có BT QPVN Phùng Quang Thanh tham dự.
Hôm 16/10 ông Thanh cho biết, “Đặc biệt trong cuộc gặp lần này BT QPTQ [Thường Vạn Toàn] cũng nêu ra vấn đề là dù TQ có phát triển lớn mạnh đến đâu cũng không xâm lược các nước láng giềng trong khu vực”.
Tại sao TQ có lập trường như vậy? và lập trường này có phản ảnh đúng thực trạng và hành động của TQ hay không?
Đặt mình vào vị trí của TQ, tạm mang đôi giày của họ để tìm hiểu xem thế giới quan của họ ra sao?
Trước nhất là Giấc Mơ Trung Quốc của ông Tập Cận Bình, ông lãnh đạo và chủ xướng giấc mơ này nên ông đánh động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, và ông ở vào thế phải thực hiện nó. Thực hiện ở Hoa Đông (Senkaku) với Nhật thì quá rủi ro vì chính quyền của ông có thể không kiểm soát được nội tình, cho nên như ông Allen R. Carlson viết trên National Interest, tuy quan hệ với Nhật xấu tệ nhưng bị đóng băng tức hoà bình trong căng thẳng.
Thứ hai, Biển Đông xa hơn, chủ nghĩa dân tộc của dân TQ yếu hơn, chính quyền dễ kiểm soát nội tình hơn cho nên dễ xâm lấn hơn. Nhưng Hoa Kỳ, siêu cường mà TQ sợ nhất, cần nhất, muốn chia quyền bá chủ nhất và không muốn đụng độ quân sự nhất, đã đưa ra hai nguyên tắc mà TQ không thể vi phạm, vì HK sẽ phản ứng (1) Tự do hàng hải trên vùng biển quốc tế, (2) Giải quyết tranh chấp chủ quyền bằng các phương tiện hoà bình.
Chỉ cần TQ tôn trọng hai nguyên tắc này, tức tôn trọng luật quốc tế UNCLOS (do các quốc gia mạnh về hàng hải vẽ ra và HK thực thi lâu nay trên biển, dù thượng viện HK chưa thông qua) thì HK không can thiệp vào vấn đề tranh chấp chủ quyền. Điều này có nghĩa là HK KHÔNG QUAN TÂM ai làm chủ các mỏm đá, miễn là các nước chủ nhân tuân thủ các quy định về đá nửa nổi (50m), đá nổi (12 hải lý) và đảo có sinh hoạt kinh tế (thêm EEZ 200 hải lý).
Cho nên vấn đề thực sự sẽ là TQ muốn các đảo nhân tạo nửa nổi trước đây được lấn lên để hưởng quy chế 12 hải lý (Ga Ven, Tư Nghĩa, Vành Khăn, Su Bi) và các đảo tự thân đã có 12 hải lý sẽ lấn lên thành có thêm EEZ (Châu Viên, Chữ Thập, Gạc Ma).
Nếu họ lấn được thì các đảo khác đang ở trong tay Việt Nam và Phi sẽ rất là khó giữ vì họ lập vùng kiểm soát ra vào và cô lập như họ đang làm ở Cỏ Mây với Phi, áp dụng chiến thuật bào mòn (salami slices/lát cá) theo thời gian để VN và Phi bỏ đảo.
Chiến lược của TQ thì BẤT BIẾN, nghĩa là chiếm lấy Biển Đông, KHÔNG TƯƠNG NHƯỢNG các nước có tranh chấp, nhưng chiếm TRONG HOÀ BÌNH, vũ lực chỉ được dùng làm hậu thuẩn phía sau, họ không nổ súng trước nhưng nếu VN hay Phi nổ súng thì họ sẽ vịn vào đó mà ra tay. Tránh đụng độ với HK.
Chiến lược này làm cho HK không thể phản ứng, nên tê liệt hoá được HK mà vẫn đạt được mục tiêu. TQ hay nhắc binh thư Tôn Tử về nghệ thuật cao nhất của chiến tranh là không đánh mà chiếm được thành.
Thứ ba, cũng như HK tuy không máu xanh bằng HK về kinh tế, TQ đang xây dựng các huyết mạch và khu vực kinh tế thương mại nằm trong vùng ảnh hưởng của mình. Con Đường Tơ Lụa trên biển và Ngân Hàng Đầu Tư Cơ Sở Hạ Tầng Châu Á là để thu hút các nước trong vùng, và Diễn Đàn An Ninh Hương Sơn là cây dù an ninh để bảo về vùng ảnh hưởng này. Họ muốn đẩy HK ra khỏi khu vực. Bà phát ngôn viên Hoa Xuân Oánh khi phản pháo về việc HK dự định cho tàu chạy vào vùng 12 hải lý đã biểu lộ rõ rệt ý định này khi nói HK đừng nhân danh tự do hàng hải, dùng nó làm cái khiên che chắn để vi phạm chủ quyền của TQ, và không chấp nhận một nước ở quá xa khu vực lại can thiệp vào các vấn đề của khu vực. Rõ ràng TQ khẳng định vai trò lãnh đạo khu vực và tận dụng lợi thế của quốc gia tại chỗ.
Thứ tư, TQ bắt mạch được dòng suy nghĩ của HK là nếu TQ trừng lên hoà bình thì HK không ngăn cản mà còn khuyến khích. HK sẵn sàng chia xẽ gánh nặng sen đầm thế giới mà lâu nay HK cô đơn gánh chịu một mình, vừa tốn kém, vừa đuối. Nếu TQ chung vai với HK trong các vấn đề toàn cầu là điều mà HK mong ước (khí hậu, dịch bệnh, hạt nhân, mũ xanh LHQ…). Cho nên HK sẽ không vì chủ quyền các mỏm đá thuộc về của ai để mất một đối tác quan trọng ở tầm thế giới.
Thứ năm, TQ không phải là Liên Sô. Với Liên Sô, hệ thống kinh tế hoàn toàn là một thế giới riêng, không dính với hệ thống kinh tế HK. Liên Sô sụp đổ là sự chiến thắng của HK và HK có lợi. Ngược lại, với TQ là một nền kinh tế quấn quyện với HK, sự suy yếu kinh tế TQ kéo theo sự suy yếu kinh tế của HK. Hai nước mậu dịch khoảng 600 tỷ một năm và tư bản HK đầu tư sâu rộng vào TQ. Có thể nói TQ giàu lên là nhờ tư bản HK. Vì vậy TQ biết rằng HK không vì việc ai là chủ quyền các mỏm đá để tự bắn vào chân mình.
Việc Bộ Truởng QP Carter hôm 13/10 khẳng định quyền hiện diện ở Biển Đông “Chúng tôi đã lặp đi lặp lại nhiều lần rằng chúng tôi sẽ điều máy bay, tàu bè và hoạt động ở bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép. Chúng tôi sẽ thực thi các quyền đó vào những thời điểm và tại những địa điểm do chính chúng tôi quyết định, sẽ không có bất kỳ ngoại lệ nào, dù là ở Bắc Băng Dương hay trên các tuyến hàng hải quan trọng đối với thương mại quốc tế khắp nơi trên thế giới, hay tại Biển Đông” chính yếu là để trấn an đồng minh Á Châu hơn là sẽ có một hành động thực chất để đẩy TQ thụt lùi, ông chỉ muốn TQ giữ hoà bình và tôn trọng luật quốc tế trong khi lấn sân chủ quyền.
Cho nên khi được hỏi về thông tin HK đang cân nhắc việc điều tàu chiến tới gần vùng biển quanh các đảo nhân tạo, Bộ trưởng Carter không xác nhận mà cũng không phủ nhận ý định của Hoa Kỳ.
Những nguời quan tâm và theo sát thái độ chính trị của HK trong vấn đề Biển Đông, hay việc Mỹ định cho tàu vào vùng 12 hải lý của các đảo TQ bồi đấp ở Trường Sa, thấy rằng nó giống như cái chuông, ngân lên âm thanh trong mùa tranh cử, chính quyền Obama đã tuyên bố xoay trục nhưng trên thực địa thì trớn xoay chưa đủ, trong khi đó TQ quá trắng trợn nên không thể lờ đi hoài khi các đồng minh HK ở Á Châu thúc hối và báo chí cùng quốc hội chỉ trích. Từ năm 2012 đến nay HK đã chẳng bén mãng đến vùng 12 hải lý các đảo TQ chiếm, đợi TQ xây xong hết rồi HK mới tham khảo việc đem tàu chạy qua. Để hai bên cùng chiến thắng, HK có lẽ sẽ đem tàu chạy vô khoảng 30 phút, TQ sẽ lên radio la hét đuổi đi, chiếu radar vô tàu HK, đem máy bay hay trực thăng bay vòng vòng để xua đuổi, sau khoảng 30 phút tàu HK ra khỏi hải phận là êm chuyện. HK nói là đã chứng minh quyền tự do đi lại, nhưng như trước đây, việc tự do cho tàu chiến HK này chắc vài năm mới tái diễn một lần, còn tàu các nước khác như VN, Phi, Mã Lai… thì khó mà bén mãng đến và chẳng có tự do gì cả, và có thể bị TQ bắn chìm. TQ cũng mạnh mẽ tuyên bố là đã bảo vệ được chủ quyền biển đảo.
Rồi sau đó mọi việc sẽ chìm vào quên lãng, HK sẽ chẳng đến hàng tháng để khiêu khích TQ, có thể vài năm đảo qua một lần cho đồng minh thấy có, làm cho có vẻ như HK thực tế có kiểm soát vùng đó.
Cho đến nay, việc vào vùng 12 hải lý chỉ là tin báo chí, không chính thức từ chính quyền HK, mà là do giới chức giấu tên xì ra cho giới truyền thông.
Theo nhận xét của người viết, HK không dại gì đi gây hấn với TQ vì những mỏm đá không có lợi ích kinh tế mà còn phiêu lưu vào vấn đề chủ quyền (máu xanh kinh tế mà). Nếu có, thì đó chỉ là một đoản kịch/skit 30 phút mà TQ có thể là đồng soạn giả.
Tướng Phạm Trường Long và giàn lãnh đạo tối cao của TQ đã có một lập trường dứt khoát và một chiến lược rõ ràng cho sự trừng lên không gây chiến trước với các nước láng giềng và tránh voi không xấu mặt nào, không để đụng chạm quân sự với HK.
Hiện nay TQ cần bành trướng để trở thành bá chủ vùng Châu Á-Thái Bình Dương. Không như Mỹ Châu mà HK trừng lên thành bá chủ, Châu Á-TBD có quá nhiều các quốc gia mạnh như Nhật, Ấn, Nam Hàn, Nam Dương, Singapore, Úc, Việt Nam bao quanh, cho nên sự trừng lên của TQ sẽ vất vả hơn nhiều vì các quốc gia này đều muốn kềm chế, và Giấc Mơ Trung Quốc để có thể ngang hàng với HK chia đôi thế giới thì chắc không thể xảy ra.


Thứ Tư, 14 tháng 10, 2015

Yếu tố Trung Quốc trong các cuộc xâm lược Việt Nam của Phương Tây


THAM KHẢO 

Đăng ngày Thứ hai, 12 Tháng 10 2015 09:45
Trong các lần xâm lược Việt Nam từ giữa thế kỷ 19 đến thế kỷ 20, các nước phương Tây đều khai thác và sử dụng yếu tố Trung Quốc. Với sự thỏa hiệp giữa các nước phương Tây và Trung Quốc trong các cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, hai phía ít nhiều đều có lợi.
Việt Nam và Trung Quốc như Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi đã chỉ ra: “ Cõi bờ sông núi đã riêng/ Phong tục Bắc Nam cũng khác. Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều xưng đế một phương”(1).
Hơn thế nữa, cho đến trước cuộc xâm lăng của thực dân Pháp giữa thế kỷ XIX, hai nước gắn chặt với nhau trên nhiều phương diện từ thiên nhiên “ núi liền núi, sông liền sông”, hành chính qua địa giới các tỉnh giáp nhau ở biên giới, tương đồng về văn hóa và đặc biệt Việt Nam là một nước phiên thuộc, triều cống đối với các vương triều Trung Hoa. Hiểu được điều đó, các nước thực dân, đế quốc phương Tây, từ giữa thế kỷ XIX đến tk XX, khi xâm lược nước ta đều tính đến và sử dụng yếu tố Trung Quốc trong trò chơi chính trị với Việt Nam. Bằng sử liệu thu thập được, bài viết này cố gắng làm rõ việc các nước thực dân phương Tây đã sử dụng yếu tố Trung Quốc như thế nào trong các cuộc xâm lược Việt Nam của họ.
1. Dưới thời nhà Thanh.
Thực dân Pháp, sau khi thiết lập sự chiếm đóng vững chắc trên toàn bộ xứ Nam Kỳ lục tỉnh, năm 1873 đã tiến hành cuộc Viễn Chinh Bắc Kỳ lần thứ nhất với hai mục đích: 1) Buộc triều đình Huế ký một hiệp ước mới công nhận sự thống trị của chúng trên đất Nam Kỳ ( Hiệp ước Nhâm Tuất 1862 mới công nhận sự chiếm đóng của Pháp ở 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ và quần đảo Côn Lôn); 2) Thăm dò sự phản ứng của nhà Thanh, Trung Quốc. Trong một lá thư đề ngày 8-9-1873 gửi từ Hồng Công, Francis Garnier đã cho biết “ người Anh xúi dục Trung Hoa chinh phục xứ Bắc Kỳ…Tôi đã trình bày với Đô đốc (Đuyprê) rằng nếu như chính quyền Annam biến đi trên đất Bắc Kỳ thì đồng thời ảnh hưởng của chúng ta trên vùng đất này cũng sẽ chấm hết; rằng nếu chúng ta làm cho quyền hành của triều đình Huế được tôn trọng thì chúng ta sẽ được đứng trên một địa bàn ngoại giao bất khả xâm phạm; rằng nếu chúng ta tiến hành một cuộc viễn chinh không có lý do gì thì có thể chúng ta sẽ gặp phải cuộc can thiệp bắt ngờ và sẽ vấp phải những khó khăn hết sức nghiêm trọng mà ông không thể lường được vì quân đội Trung Hoa được trang bị những loại súng trường bắn nhanh và súng liên thanh do ông Duypuy bán cho họ…” (2).
Với cuộc Viễn chinh Bắc Kỳ lần thứ nhất, thực dân Pháp đã đạt được cả hai mục đích đó một cách trọn vẹn. Ở đích thứ nhất, thực dân Pháp đã buộc triều đính Huế ký Hiệp ước Giáp Tuất 1874 , theo đó, thực dân Pháp, ngoài việc triều đình Huế công nhận sự thống trị của người Pháp trên toàn bộ vùng Lục tỉnh Nam Kỳ ( Điều 5), còn tại Điều 2 và Điều 3, Pháp đã gạt bỏ sự lệ thuộc của triều đình Huế vào nhà Thanh bằng việc thừa nhận “ chủ quyền của vua Annam và nền độc lập đầy đủ của ông đối với tất cả mọi cường quốc bên ngoài, bất kể là nước nào…và đổi lại nhà vua Annam cam kết thi hành chính sách ngoại giao của mình theo đúng chính sách của nước Pháp và không thay đổi gì trong quan hệ ngoại giao hiện nay của mình ” (3). Tại 3 điều khoản quan trọng đó trong Hiệp ước Giáp Tuất, Pháp đã tách Việt Nam ra khỏi quỹ đạo Trung Hoa. Ở đích thứ hai, thực dân Pháp đã một phần yên lòng và vững tâm hơn bởi sự phản ứng yếu ớt của nhà Thanh trước hành động của họ ở vùng đất phiên thuộc Bắc Kỳ. Người Pháp sợ nhất là nhà Thanh đưa quân vào Bắc Kỳ đánh nhau trực tiếp với họ. Điều đó đã không xảy ra, nếu có chỉ là những đội quân thổ phỉ cờ Vàng, cờ Đen từ bên kia biên giới tràn qua kết hợp với quân đội triều đình đánh Pháp (trường hợp sự liên kết giữa quân triều đình của Hoàng Kế Viêm và quân cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc đã tạo nên chiến thắng Cầu Giấy I).
Và như vậy, qua Hiệp ước Giáp Tuất, lần đầu tiên ta thấy người Pháp đã tính đến yếu tố Trung Hoa trong cuộc xâm lược Việt Nam của họ. Từ đây, yếu tố Trung Quốc luôn hiện hữu trong những bước đi thôn tính nước ta của Pháp. Nói một cách khác, con bài chính trị Việt Nam được đem ra mặc cả, mua bán trong những toan tính lợi ích chính trị, kinh tế của hai bên.
Sau Hiệp ước đó, dù hiểu hay không, vua Tự Đức vẫn tiếp tục ngoại giao truyền thống ( di sản tổ tông) là triều cống nhà Thanh. Đó là năm 1877, sứ bộ lần đó đã yêu cầu và được nhà Thanh chấp nhận gửi một đạo quân sang Bắc Kỳ để dẹp nhóm nổi loạn Lý Dương Tài. Lập tức Bộ trưởng Hải quân Pháp liền ra lệnh cho Thống đốc Sài Gòn phải lưu ý đến triều đình Huế: “ Sự can thiệp của Trung Hoa, mà Huế đã yêu cầu, là một vi phạm nghiêm trọng vào những quyền lợi mà Hiệp định 1874 đã dành cho chúng ta, và làm như thế là họ đã vi phạm cam kết với chúng ta” (4). Tuy nhiên, cả Trung Hoa lẫn Pháp, đang vướng vào những việc lớn hơn, nên chuyện đó cũng qua đi cho đến ngày 10-11-1880, Tăng Kỳ Trạch tái khẳng định với Bộ trưởng Ngoại giao Pháp là Trung Hoa vẫn nắm giữ tôn quyền đối với nước Đại Nam thì cuộc tranh cãi bùng phát, trở nên sôi nổi và cuối cùng là hành động.
Như chúng ta biết, sau khi Lý Dương Tài chết năm 1879, quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc làm chủ miền thượng du Bắc Kỳ và kiểm soát thương mại trên sông Hồng, tuyến thương mại huyết mạch nối Vân Nam với Hồng Công. Tháng 10-1881, hai người Pháp là Courtin và Villeroi bị thương do quân Cờ Đen. Dựa vào Điều 11 trong Hiệp ước 1874, người Pháp đòi triều đình Huế phải dẹp bỏ quân Cờ Đen. Dĩ nhiên triều đình Huế không chấp nhận. Đó là cớ nhỏ. Cớ chính ẩn sau đó là mỏ than Hồng Gai với trữ lượng lớn mà Pháp rất cần, sắp rơi vào tay người Hoa (đứng đằng sau là người Anh). Vì hai lý do đó mà có cuộc viễn chinh Bắc Kỳ năm 1882 do Đại tá hải quân Henri Rivière chỉ huy (5). Sau khi Hà Nội thất thủ năm 1882, triều đình Huế yêu cầu nhà Thanh viện trợ 2 vạn quân sĩ. Thấy rõ âm mưu của Pháp muốn nuốt Bắc Kỳ và như thế sẽ uy hiếp trầm trọng vùng biên giới Nam Trung Hoa nên vua Thanh đã phúc đáp bằng mấy chữ: “ Khả, sĩ bắc phong tái biện”, dịch ra tiếng Việt là: “ Rất tốt! Chúng tôi sẽ thi hành biện pháp ngay khi gió Bắc thổi tới”(6). Từ mùa Thu năm 1882, triều đình nhà Thanh cho quân xâm nhập Bắc Kỳ, đóng rải rác trên một tuyến kéo dài từ Cao Bằng, Lạng Sơn xuống Thái Nguyên, Tuyên Quang. Hưng Hóa đến tận Bắc Ninh. Sự lo sợ nhà Thanh đưa quân vào tham chiến trên đất Bắc Kỳ từ cuộc viễn chinh Bắc Kỳ lần thứ nhất đến đây đã hiện hữu. Vì thế mới có cuộc đàm phán giữa đại diện triều đình nhà Thanh và nước Pháp, lúc ở Pari, khi ở Thiên Tân, và cuối cùng, năm 1885, một Hiệp ước được ký kết giữa đại diện Chính phủ Pháp là Thủ tướng Freycinet và đại diện của Trung Hoa là Tổng lý Nha môn (tương đương Thủ tướng) Lý Hồng Chương tại Thiên Tân, Trung Quốc, mà trong lịch sử gọi là Hiệp ước Thiên Tân năm 1885, kết thúc cuộc tranh giành ảnh hưởng ở Việt Nam của Nhà Thanh và Pháp. Lần đầu tiên Việt Nam như một món hàng được chia chác của cả hai phía ký trong hiệp ước. Trung Quốc cam kết “… giải tán các toán thổ phỉ tìm cách lập lại tổ chức trên lãnh thổ mình để gây rối trong dân chúng đang được nước Pháp bảo hộ và tôn trọng các lời cam kết liên quan đến an ninh biên giới, Trung Quốc cũng không phái quân đội của mình vào lãnh thổ Bắc Kỳ”(Điều khoản 1) và “ Trung Quốc quyết định không làm gì có hại đến công việc bình định của Pháp và cam kết tôn trọng hiện nay và trong tương lai những hiệp ước, hiệp định và thỏa ước đã ký hay sẽ ký trong tương lai giữa Pháp và An Nam” (Điều khoản 2). Đổi lại, Trung Quốc được Pháp cam kết: “ Từ khi hiệp ước này được ký, lực lượng Pháp sẽ rút khỏi Ka Lung (Ka Long, con sông làm ranh giới giữa Móng Cái, Việt Nam và Đông Hưng, Trung Quốc) và chấm dứt đi lại ngoài khơi. Trong thời gian 1 tháng sau khi ký kết hiệp ước này, quân đội Pháp sẽ hoàn toàn rút khỏi đảo Đài Loan và đảo Lôi Châu” ( Điều khoản 9).
Rồi từ đây, thực thi Điều khoản 3 trong Hiệp ước Thiên Tân 1885, hai phía đi đến ký kết Công ước Pháp- Thanh 1887 nhằm phân chia biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc. Theo công ước đó Pháp cắt ¾ đất tổng Tụ Long, thuộc tỉnh Hà Giang, có diện tích 750km2 sáp nhập vào tỉnh Vân Nam, Trung Quốc; cắt 9 xã rưỡi thuộc tổng Kiến Duyên và Bát Tràng thuộc tỉnh Quảng Yên cho tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Vì thế mà trong cuộc trò chuyện với Đô đốc Pháp Rieunier, Lý Hồng Chương đã nói: “ Nước Pháp đã đạt được nhiều quyền lợi khi chiếm được Bắc Kỳ, một nước chư hầu của Trung Hoa 600 năm nay, việc này là nhờ trung gian của tôi. Nó đã gây cho tôi nhiều phiền phức, tôi nghĩ rằng một sự đề bồi dưới dạng nhường vài vùng đất nhỏ trên vùng biên giới là cân thiết”.
Như vây, yếu tố Trung Quốc đã can dự vào cuộc xâm lược Việt Nam cuối thế Kỷ XIX. Đổi lấy quyền Thiên triều đối với nước phiên thuộc Việt Nam, nhà Thanh đã được Pháp rút quân khỏi Ca Long (7) và đảo Đài Loan và bán đảo Lôi Châu và tiếp đó là ¾ tổng Tụ Long và trên 9 xã của tỉnh Quảng Yên.
2. Dưới thời Trung Hoa Dân Quốc.
Sau khi Chiến tranh thế giới II kết thúc, theo thoả ước Postdam, ở Việt Nam từ vĩ tuyến 16 (Đà Nẵng) trở vào, quân Anh và từ vĩ tuyến 16 trở ra, quân đội của Trung Hoa Dân Quốc vào tước khi giới quân Nhật. Núp sau bóng quân Anh và được Hoa Kỳ ngầm ủng hộ, thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Ngày 23-9-1945, chúng gây hấn tại Sài Gòn, tiếp đó toàn Nam Bộ và nống ra Nam Trung Bộ. Sau khi thôn tính một số vùng ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp muốn chiếm nốt phần còn lại của nước ta, nhưng phải vượt qua hai lực cản lớn nhất đối với chúng: Chính phủ Hồ Chí Minh được nhân dân cả nước ủng hộ và quân đội của Tưởng Giới Thạch đang làm nhiệm vụ theo phe Đồng Minh phân công. Đương nhiên người Pháp phải tính toán để loại dần hai vật cản mới có thể đưa quân ra Bắc được. Trước hết, Pháp lựa chọn thương lượng thẳng với Trung Hoa Dân Quốc. Và thế là Việt Nam trở thành một món hàng mặc cả giữa chính quyền Pari và chính quyền Trùng Khánh. Sau nhiều lần thương thảo, ngày 28-2-1946, tại Trung Khánh, Ngoại trưởng Trung Hoa là Vương Thế Kiệt và Đại sứ Pháp tại Trung Hoa là Jacques Meyrier ký kết Hiệp ước Pháp-Hoa mà trong lịch sử thường gọi là Hiệp ước Trùng Khánh. Theo hiệp ước đó, Trung Hoa rút quân khỏi Việt Nam từ ngày 1 đến 15 tháng 3 và chấm dứt là ngày 31- 3-1946. Đổi lại, Pháp trả và nhường cho Trung Hoa nhiều quyền lợi kinh tế ở Trung Hoa và ở Việt Nam như trả lại nhượng địa (Quảng Châu Loan) và tô giới (Sa Điện, Quảng Châu) và cho thuê lại đoạn đường sắt Côn Minh (thủ phủ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc ) đến Hồ Kiều, Lào Cai (Việt Nam), nhượng cho Trung Hoa Dân Quốc một đặc khu ở cảng Hải Phòng, hàng hóa của Trung Hoa Dân Quốc vận chuyển quá cảnh qua miền Bắc sẽ được miễn thuế.
Trong những nhượng bộ của Pháp cho chính phủ Trùng Khánh, những nhượng bộ liên quan mật thiết với nước ta là quan trọng nhất. Chúng ta điều biết, sau khi phát xít Nhật nhảy vào Trung Quốc, lần lượt đánh chiến các tỉnh duyên hải Trung Hoa, cắt đứt mọi sự liên hệ với Trùng Khánh, đặc biệt hàng hóa viện trợ quân sự của các nước Đồng Minh, chủ yếu là của Hoa Kỳ, cho Chinh quyền Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh. Từ đó, thông qua cảng Hải Phòng và tuyến đường sắt Việt – Điền là tuyến huyết mạch chu chuyển xăng dầu, xe tăng, đại bác và các trang thiết bị quân sự của các nước Đồng Minh, đặc biệt là Hoa Kỳ, viện trợ cho chính quyền Trùng Khánh.
3. Dưới thời Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Trong cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp. Sau khi đánh đuổi quân đội Tưởng ra khỏi đại lục, 1-10-1949 nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa do Mao Trạch Đông làm chủ tịch được thành lập. Ngày 18-1-1950, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đây, hai nước Việt Nam, Trung Hoa không chỉ “núi liền núi, sông liền sông”, mà hơn nữa cùng chung một loại hình nhà nước (đất nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo), cùng chung một ý thức hệ (lấy chủ nghĩa Marx – Lenin làm nền tảng tư tưởng), và đặc biệt sự giúp đỡ về người và của cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta bắt đầu từ chiến dịch Biên giới năm 1950. Trên thực tế, sau thắng lợi chiến dịch Biên Giới với đường biên trên 750 km được giải phóng, cuộc phá vây của ta mới toàn thắng. Từ đây, nước ta nối liền với hệ thống xã hội chủ nghia do Liên Xô đứng đầu và nhận được sự giúp đỡ của tất cả các nước trong hệ thống. Do đó, cuộc kháng chiến của nhân dân ta thu được những thắng lợi rực rỡ, dẫn đến chiến cuộc đông xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm 1953, sau khi Stalin mất, một bầu không khí hòa hoãn với Mỹ đang ngự trị trên chính trường thế giới. Đó cũng là những năm tháng Trung Quốc thể hiện sức mạnh của mình trong cuộc kháng Mỹ viện Triều dẫn tới giải pháp đình chiến trong cuộc chiến tranh Triều Tiên tại Bàn Môn Điếm năm 1953. Trong thời chiến tranh lạnh, hai lò lữa chiến tranh ở châu Á đã được dập tắt một. Ngày 24-8-1953, Chu Ân Lai đã tuyên bố: “ Cuộc đình chiến ở Triều tiên làm mẫu mực cho những cuộc xung đột khác”. Lời tuyên bố của Chu như là sự ám chỉ cho một giải pháp để dập tắt lò lửa chiến tranh thứ hai ở châu Á là cuộc chiến tranh Đông Dương. Hơn ai hết Trung Quốc mong muốn dập tắt các cuộc chiến tranh ngay sát biên giới với mình để tránh những mất mát khi phải tham chiến như ở Triều Tiên, để tập trung sức lực cho kế hoạch 5 năm (1953-1957) và đằng sau đó là để thể hiện vai trò của một thế lực chính trị đang lên ở Châu Á và trên thế giới. Trung Quốc rất muốn giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương theo chiều hướng ngăn không để Hoa Kỳ có cơ hội can thiệp trực tiếp vào Đông Dương như đã từng diễn ra ở Triều Tiên. Đó là mục tiêu hàng đầu của phái đoàn Trung Quốc do Chu Ân Lai dẫn đầu đã mang tới và chi phối toàn bộ hoạt động của họ tại Hội nghị Genève. Chấm dứt chiến tranh bằng giải pháp chia cắt Việt Nam theo đường vĩ tuyến là phương sách phù hợp nhất với hoàn cảnh thực tiễn của Trung Quốc và tình hình thế giới. Chu Ân Lai lần đầu bày tỏ giải pháp này trong cuộc gặp gỡ giữa 3 trưởng phái đoàn Liên Xô (Ngoại trưởng Molotop), Trung Quốc (Chu Ân Lại) và Việt Nam (Phạm Văn Đồng) tai Moskva trước khi tới Geneva và đặc biệt trong các cuộc gặp riêng với các phái đoàn Anh, Pháp vào các ngày16/17-6-1954. Ngày 24-6-1954, tại Washington, diễn ra cuộc gặp gỡ cấp cao bàn về chấm dứt chiến tranh Đông Dương giữa Tổng Thông và Ngoại trưởng hai nước Anh, Mỹ. Tại đây, hai bên đã đưa ra 7 điều kiện về một thỏa thuận đình chiến ở Đông Dương, trong đó nhấn mạnh điều kiện giành cho phương Tây phần lãnh thổ phía nam và một vùng khác lõm sâu ở đồng bằng Bắc Bộ. Như vậy, tất cả các bên đã đồng thuận theo giải pháp chia cắt Việt Nam theo vĩ tuyến. Vấn đề còn lại là lấy vĩ tuyến nào? Có thể nói đây là vấn đề được tranh luận nhiều nhất giữa hai phe. Khi Điện Biên Phủ chưa phân thắng bại thì Trung Quốc lựa chọn vĩ tuyến thứ 16. Ngày 8-5 tin thắng trận Điện Biên của ta đến với Phạm Văn Đồng. Trưởng phái đoàn ta có thái độ cứng rắn hơn và mạnh dạn đưa ra ý tưởng vạch giới tuyến quân sự tại vĩ tuyến 13. Phia Pháp lấy vĩ tuyến 19 (Bắc Đồng Hới). Trước sự cứng rắn của phái đoàn Việt Nam, ngày 24-6 phía Pháp đưa ra đề nghị lấy vĩ tuyến thứ 18 với lý do họ cần thông thương qua Lào ( qua quốc lộ 9). Việt Nam không nhượng bộ. Hội nghị bế tắc, tạm dừng. Vì thế mới có cuộc gặp gỡ tại Oa sinh tơn giữa Anh và Hoa Kỳ ngày 29-6 đã đi tới 7 điểm, trong có lấy vĩ tuyến 17. Và có cuộc gặp gỡ tại Liễu Châu, Trung Quốc giữa Hồ Chí Minh và Chu Ân Lại từ ngày 3 đến 5-7-1954 bàn về những giải pháp kết thúc chiến tranh. Theo Hồ Chí Minh, nếu so sánh lực lượng trên thực tế chiến trường thì Việt Nam không được vĩ tuyến 15 thì chí ít phải giành được vĩ ruyến 16 như trước đây Đồng Minh đã chọn làm ranh giới tạm thời để giải giáp quân đội Nhật ở hai miền Nam-Bắc Đông Dương. Ngay trong ngày kết thúc cuộc gặp gỡ Liễu Châu, Hồ Chí Minh đã gửi điện chỉ thị những vấn đề then chốt cho Phạm Văn Đồng. Sau này trong một lần nói chuyện với cán bộ ngoại giao, Người nhắc lại sự kiện đó: “ Lúc đó, trong nước ta thắng, bên ngoài nước cũng thắng, nó ảnh hưởng lẫn nhau. Nhưng cũng có cái khó là ở chỗ Mỹ muốn nhảy vào thay thế Pháp và không muốn ta nhận vĩ tuyến 17. Tình hình lúc đó chỉ có là hòa hay đánh. Nếu ta không chịu hòa, thì sẽ phải đánh. Ta tranh đấu mãi, từ Vĩ tuyến 15, đến Vĩ tuyến 16, rồi đến Vĩ tuyến 17. Đến đây ta không nhựơng nữa, nó phải chịu” (8).
Hội nghị Genève là cơ hội quan trọng để đưa Trung Quốc thành một thế lực chính trị tại châu Á mà không một nước nào có thể bỏ qua. Theo Francois Joyaux, Trung Quốc không quan tâm đến lợi ích của những người cộng sản và những người theo dân tộc chủ nghĩa tại 3 nước Đông Dương. Trung Quốc thỏa hiệp với các nước phương Tây trong giải pháp phân chia lãnh thổ đối với lực lượng bản xứ chống Pháp tại các nước này (9). Mục tiêu cao nhất của Trung Quốc là mong muốn các bên ký kết một hiệp định về Đông Dương để tránh mọi sự can thiệp của Mỹ, lấy Vĩ tuyến 17 làm ranh giới phân chia Việt Nam ra làm hai: một Bắc Việt Nam giáp với Trung Quốc theo chế độ xã hội chủ nghĩa, như một lá chắn, một Nam Việt Nam thuộc quyền kiểm soát của Pháp ngăn không để Mỹ vào.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thất bại nặng nề trước đòn tiến công và nổi dậy của các lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam trong Tết Mậu Thân, ngày 31-3-1968, Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đọc diễn văn về việc ném bom hạn chế miền Bắc Việt Nam và đề nghị nói chuyện với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau nhiều cuộc tiếp xúc bí mật của phía Mỹ, Chính phủ ta tuyên bố “sẽ cử đại diện tiếp xúc với đại diện Mỹ”. Hai bên tranh luận kéo dài gần một tháng về địa điểm hòa đàm, cuối cùng thỏa thuận lấy thành phố Paris làm nơi đàm phán.
Ngày 13-5-1968, cuộc đàm phán giữa phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do ông Xuân Thủy dẫn đầu và phái đoàn Hoa Kỳ do Averell Harriman lãnh đạo, chính thức khai mạc tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế Kléber, thành phố Paris. Trong quá trình đàm phán hòa bình Việt Nam – Hoa Kỳ tại Paris, từ tháng 4-1971, bắt đầu xuất hiện yếu tố Trung Quốc bằng sự kiện Thủ tướng Chu Ân Lai chủ động mời Tổng thống Mỹ Richard Nixon sang thăm Bắc Kinh. Chúng ta đã từng biết trước sự kiện này, năm 1965, trước khi đổ quân vào miền Nam và mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, Hoa Kỳ đã tiến hành thăm dò phản ứng của Trung Quốc. Tháng 1-1965, trong cuộc phỏng vấn của nhà báo Mỹ Etga Xnô, Mao Trạch Đông đã không úp mở tuyên bố: “ Quân đội Trung Quốc sẽ không vượt biên giới của mình để đánh nhau. Đó là điều rõ ràng. Chỉ khi nào Mỹ tiến công (vào đất Trung Quốc), người Trung Quốc mới chiến đấu” (10). Điều đó có thể suy ra: Ngươi (Mỹ) không đụng đến ta ( Trung Quốc), thì ta không đụng đến ngươi.
Tuyên bố của Mao làm yên lòng để Mỹ đổ quân vào miền Nam và mở rộng đánh phá miền Bắc. Dẫu vậy, Mỹ không thể ngăn chặn sự tiếp viện người và của cho chiến trường miền Nam và thắng lợi trong hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 và đặc biệt trong Tết Mâu Thân. Cùng với sự thất bại trên chiến trường Việt Nam và phong trào phản chiến ở hậu phương nước Mỹ, Hoa Kỳ nhận thấy không thể thắng ta về quân sự nên đi tìm giải pháp hòa đàm như trên đã nói.
Từ tháng 5-1968 đến tháng 2-1970, hội nghị Paris chỉ là diễn đàn để hai bên lên án lẫn nhau và định hướng dư luận thế giới. Từ ngày 21-2-1970, khi có nhừng cuộc gặp gỡ riêng giữa Lê Đức Thọ và Kissinger, cuộc hòa đàm Paris mới đi vào thực chất. Và cũng bắt đầu từ đây, Hoa Kỳ nghĩ tới việc lợi dụng yếu tố Trung Hoa giúp họ giành thế thượng phong trong cuộc hòa đàm với Việt Nam. Và Trung Quốc cũng đã sớm nhận ra nên cũng đã sử dụng Việt Nam trong sự đổi chác lợi ich của mình với Hoa Kỳ, bất chấp sự tổn thất của “người đồng chí, người anh em” đã từng cùng chung lưng đấu cật thời hàn vi.
Chúng ta đều nhớ, một chương mới trong quan hệ Trung-Mỹ được mở ra bằng việc Trung Quốc công bố trên Đài phát thanh Bắc Kinh ngày 26-11-1968 bản Tuyên bố về mong muốn nối lại cuộc đàm phán với MỸ ở cấp đại sứ ở Vacsava (Ba Lan). Đối với Oashinhtơn, đó là tín hiệu không thể bỏ qua, vì thế lập tức họ tìm mọi cách làm thỏa mãn mong muốn của Bắc Kinh. Người đóng vai trò tích cực đó là Kissinger, cố vấn an ninh của Tổng thống R.Nixon.
Ngày 1-2-1969, Kissinger bước vào Nhà trắng và cùng với Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Richardson nghiên cứu và vạch ra một lộ trình thích hợp để đưa quan hệ Mỹ-Trung đạt được những thỏa thuận có lợi cho cả đôi bên. Đúng 20 ngày sau khi giữ cương vị mới, trong cuộc họp tại Nhà Trắng ngày 21-2-1969, Kissinger đã đưa ra một ý tưởng chủ đạo là “ mọi xem xét tình hình quốc tế phải đánh giá vai trò của một nước có 700 triệu dân…” (11). Tiếp đó, ông vạch kế hoạch cho chuyến thăm Pháp của Tổng thống R. Nixon để từ đây R. Nixon nói với Tổng thống Pháp De Gaulle cũng là thông báo gián tiếp với Bắc Kinh rằng: Bất kể khó khăn như thế nào, Hoa Kỳ cũng quyết tâm mở cuộc đối thọai với Trung Quốc và nếu yêu cầu của Oasinhton được Bắc Kinh chấp nhận thì Hoa Kỳ sẽ ủng hộ Trung Quốc vào Liên Hợp Quốc , bỏ cấm vận kinh tế, rút quân Mỹ ra khỏi Đài Loan…
Do lợi ích quốc gia bức thiết, cuối tháng 12-1969, Đại biện lâm thời Trung Quốc Lei Yang đã chủ động gặp Đại sứ Mỹ Walter J. Stoessel ở Vacsava đề nghị mở lại đàm phán cấp đại sứ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ từ tháng 1-1970. Sau nhiều lần gặp gỡ trực tiếp, trao đổi công hàm, thư từ về các vấn đền liên quan, mùa Xuân 1971, Trung Quốc chính thức đặt vấn đề mời phái viên cấp cao chính quyền Hoa Kỳ sang trực tiếp đàm phán. Và theo đề xuất từ Bắc Kinh, Kissinger đã được Tổng thống Nixon cử sang Bắc Kinh đảm nhiệm trọng trách này. Các vấn đề, đặc biệt cuộc chiến tranh ở Việt Nam, được đặt ra như một điều kiện để đàn phám.
Để đẩy nhanh cuộc đàm phán, nữa cuối năm 1971, Nhà trắng quyết định nới rộng một số quyền lợi trên trường quốc tế cho Trung Quốc như giảm cấm vận và bao vây kinh tế (đã áp dụng từ năm 1950), cấp thị thực nhập cảnh cho công dân Trung Quốc muốn đến Hoa Kỳ tham quan hay làm ăn, cho phép Trung Quốc dùng đôla để nhập hàng hóa…Đổi lại, Trung Quốc chính thức mời Tổng thống Hoa Kỳ R. Nixon sang thăm Bắc Kinh. Trong cuộc làm việc với cố vấn Kissinger nhằm chuẩn bị những nội dung các văn bản đưa ra trong cuộc hội đàm của hai nguyên thủ quốc gia hai nước bao gồm chính sách với Đài Loan, việc đưa Trung Quốc vào Liên Hợp Quốc, việc rút quân Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam, Thủ tướng Chu Ân Lai hé lộ cho Kissinger hiểu về trở ngại lớn nhất trên con đường cải thiện quan hệ Trung-Mỹ là “ Việt Nam chứ không phải là Đài Loan”. Còn Kissinger yêu cầu Trung Quốc bằng cách nào đó không để Hà Nội có khả năng chiếm toàn bộ Nam Việt Nam và bán đảo Đông Dương, tức là phải làm ngưng trệ Việt Nam (12). Vậy là, hai bên đã lật bài ngữa trong trò chơi chính trị Việt Nam.
Nhằm đẩy nhanh tiến trình đàm phán, ngày 2-8-1971, Thứ trưởng ngoại giao Mỹ Roger đã công khai tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ hoàn toàn  ủng hộ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào Liên Hợp Quốc. Trong cuộc bỏ phiếu của Liên Hợp Quốc ngày 25-10-1971 Trung Quốc được chính thức công nhận là thành viên và đồng thời trở thành một trong năm nước là ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an đầy quyền lực của tổ chức quan trọng hàng đầu thế giới này. Chưa đầy một tháng sau, ngày 30-11-1971, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thông báo trên các phương tiện thông tin về cuộc viếng thăm chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Tổng thống Hoa Kỳ R. Nixon từ ngày 22 đến 28-2-1972 theo lời mời của Chính phủ Trung Quốc.
Vào thời điểm Tổng thống Hoa Kỳ R. Nixon sang thăm Trung Quốc, quân và dân miền Nam mở cuộc tiến công chiến lược xuân-hè 1972. Mặc dù chịu nhiều áp lực từ bên ngoài, đặc biệt là viện trợ quân sự, quân và dân ta đã giành được những thắng lợi to lớn trên cả hai bình diện quân sự và chính trị, làm áp lực cho cuộc đàm phán giữa ta và Hoa Kỳ ở điểm nút tại Hội nghị Paris.
Trong chuyến thăm Trung Quốc của R. Nixon, sau nhiều cuộc đàm phán, lúc công khai, lúc bí mật, cuối cùng hai bên đã ra Thông cáo chung Thượng Hải. Thông cáo đề cập nhiều vấn đề bận tâm của hai bên, nhưng một vấn đề như là điều kiện đòi hỏi hai bên phải thực hiện ngay là: “Nếu Trung Quốc muốn Hoa Kỳ rút quân khỏi Đài Loan thì Trung Quốc phải ép Hà Nội đi vào một phải pháp thỏa hiệp để tạo điều kiện cho Hoa Kỳ thực hiện việc rút ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam trong danh dự” (13)


Chú thích:

1. Dẫn theo: Phan Huy Lê (Chủ biên). Lịch sử Việt Nam, tập II, Nxb Giáo dục Việt Nam. HN, 2012, tr. 117.
2. Dẫn theo: Đinh Xuân Lâm (chủ biên). Hà Nội trong cuộc vận động giải phóng dân tộc cuối tk XIX đầu tk XX. Nxb Hà Nội, 2010, tr.228.
3. Hà Nội trong cuộc vận động…Sdd, tr. 229.
4. Dẫn theo: Yoshiharu Tsuboi.Nước Đị Nam đối diện với Pháp vàTrung Hoa 1847-1885. Nxb Tri thức, 2011, tr,363.
5. Sau khi chiếm Hà Nội tháng 4-1882, Đại tá Henri Riviere cho quân đánh chiếm Hồng Gai ngày 17-3-1883.
6. Yoshiharu Tsuboi. Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847-1885. Sdd, tr. 369.
7. Ca Long là con sông làm phân giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, một ben là huyện Móng Cái (Việt Nam) và bên kia là huyện Đông Hưng ( Trung Quốc)
8. Bác Hồ nói chuyện với cán bộ ngoại giao tháng Giêng 1964. Trong Bác Hồ và hoạt động ngoại giao. Nxb chính trị quốc gia. HN, 2008. tr.56.
9. Francois Joyaux. Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranhĐông Dương lần thứ nhất. Nxb Thông tin lý luận. Hà Nội, 1981, tr. 299.
10. E. Xnô. Cuộc cách mạng lâu dài. Nxb Hotxingxon, London, 1973, tr. 216.
11. Viện quan hệ quốc tế. Thông tin quan hệ quốc tế, số 6, thasng4/1979, tr. 82.
12. Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt –Trung. Nxb Đà Nẵng, 1996, tr. 77.
13. Marvin Kalb-Bernard Kalb. Đột phá khẩu Trung Quốc. Hội nghị cấp cao năm 1972. Viện Thông tin, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, 1978, tr, 69.
14. Marvin Kalb-Bernard Kalb. Sdd, tr, 93.

Trong bữa tiệc chiêu đãi trọng thể tại Đại lễ đường Thiên An Môn, Tổng thống Hoa Kỳ R. Nixon đã đề cập tới ý nghĩa của cuộc viếng thăm Trung Quốc năm 1972: “Đây là một tuần lễ làm thay đổi thế giới… Chúng ta đã tạo dựng một chiếc cầu vượt qua 16 nghìn dặm và 22 năm thù địch, ngăn cách chúng ta trong quá khứ. Đêm nay, hai nước chúng ta đã nắm tương lai của thế giới trong lòng bàn tay” (14). Và trong cuộc họp báo quốc tế về chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống Hoa Kỳ, Kissinger đã khẳng định: “ Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Nixon không những đã mở ra một quá trình lịch sử, mà còn đem lại cho mọi người một sự lựa chọn đối với tương lai”.
Một lần nữa yếu tố Trung Quốc được Hoa Kỳ khai thác triệt để ở điểm nút cuộc hòa đàm Paris. Cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều có những kiểu khác nhau để gây sức ép lên cuộc đàm phán theo kịch bản của họ.Nếu như phía Trung Quốc gây khó dễ cho Việt Nam bằng những thủ tục quá cảnh các thiết bị quân sự của các nước anh em giúp ta, thì phía Hoa Kỳ gây sức ép lên chúng ta bằng một chuỗi các sự kiện, bắt đầu từ tháng 4-1972, quyết định ném bom trở lại và thả thủy lôi phong tỏa các cảng biển, đặc biệt là cảng Hai Phòng, tăng cường lực lượng và phương tiện chiến tranh, liên tiếp mở những cuộc hành quân quy mô lớn trên chiến trường miền Nam, đồng thời tuyên bố hủy bỏ kế hoạch ký tắt Hiệp định Paris dự định vào tháng 10-1972. Phải khẳng định một lần nữa là sự bội ước của Hoa Kỳ chính là họ kỳ vọng vào sức mạnh của siêu pháo đài bay B.52 buộc ta trở lại Hội nghị Paris trên thế thượng phong.
Cuối cùng, những kẻ chơi con bài Việt Nam đều bị thất bại, bởi một lẽ, nước Việt Nam vào thời điểm đó không còn như nước Việt Nam dại khờ trong một thế giới ranh mãnh năm 1954 nữa.
Rốt cuộc lại, trong các lần xâm lược Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến thế Kỷ XX, các nước phương Tây đều khai thác và sử dụng yếu tố Trung Quốc. Với sự thỏa hiệp giữa các nước phương Tây và Trung Quốc trong các cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, hai phía ít nhiều đều có lợi. Chỉ một mình dân tộc Việt Nam chúng ta đã phải trả giá bằng sự mất mát, đau thương. Và giờ đây, trong cuộc khủng hoảng biển Đông, liệu chúng ta có thể thoát khỏi số phận nghiệt ngã của một nước nhỏ trong sự cạnh tranh của các cường quốc? Đến nay, hình như bài toán chưa có lời giải thỏa đáng. Chúng ta cùng nhau suy nghĩ để tìm ra lời giải thỏa đáng nhất của bài toán đố hóc búa này.

PHẠM XANH (TẠP CHÍ VĂN HÓA NGHỆ AN)


Thứ Tư, 9 tháng 9, 2015

Lào chính thức phê duyệt đập thủy điện phía thượng nguồn sông Mê Kông

Việc Lào chính thức phê duyệt dự án đập thủy điện Don Sahong sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình sản xuất của vựa lúa lớn nhất Việt Nam.

Lào chính thức phê duyệt đập thủy điện phía thượng nguồn sông Mê Kông

Mới đây quốc hội Lào đã phê chuẩn dự án đập thủy điện Don Sahong ở thượng lưu sông Mê Kông, vốn đang gây ra những tranh cãi giữa các nước trong khu vực. Bất chấp những ý kiến phản đối của các nước khác, Lào vẫn quyết tâm theo đuổi kế hoạch này và dự kiến sẽ khởi công xây dựng vào cuối năm 2015.
Với công suất dự kiến 260 MW, chính phủ Lào đang hy vọng đập Don Sahong có thể biến Lào trở thành “bình ăcquy của khu vực Đông Nam Á”. Tuy nhiên dự án thủy điện này nằm ở vị trí đầu nguồn sông Mê Kông, nên việc phê chuẩn dự án vấp phải nhiều ý kiến phản đối của các nước láng giềng phía hạ lưu sông Mê Kông, trong đó có Việt Nam, Thái Lan và Campuchia.
Theo đó, một khi đập thủy điện này hoàn tất, nó sẽ làm thay đổi dòng chảy của con sông, phá vỡ luồng di cư của các loài cá, gây thiệt hại cho ngành thủy sản cũng như ngành du lịch sinh thái của các nước phía hạ nguồn.
Theo tờ Bưu điện Phnom Penh (Phnom Penh Post) cho biết, ông Daovong Phonekeo, Tổng Giám đốc Cục Kế hoạch và Chính sách năng lượng thuộc Bộ Năng lượng và Khoáng Sản Lào, đã xác nhận rằng quốc hội Lào đã phê chuẩn dự án đập thủy điện này với công ty MegaFirst của Malaysia và hiện đang chờ ký duyệt và bắt đầu xây dựng vào cuối năm nay.
Tác động tới Việt Nam
Dòng sông Mê Kông là trung tâm của một hệ sinh thái xuyên suốt các quốc gia trong khu vực. Nên một khi đập thủy điện chính thức được xây dựng sẽ phá vỡ sự di cư của các loài cá. Ngoài ra đập thủy điện còn được cho là ảnh hưởng đến khoảng 20 triệu cư dân của vùng đồng bằng sông Cửu Long, vốn chiếm hơn 1/4 GDP của cả đất nước và là vựa lúa lớn nhất Việt Nam.
Việc ngăn nước xây đập thủy điện sẽ làm cho lượng phù sa bồi đắp ở phía hạ lưu sẽ giảm đi, điều này đồng nghĩa với việc lượng phù sa giảm nhiều và gây xói lở bờ sông, tác động lớn đến hoạt động canh tác.
Ngoài ra một đặc điểm điển hình của đồng bằng Cửu Long là nhiễm mặn vào mùa hạn hán và đến mùa mưa thì một lượng nước khổng lồ từ phía thượng lưu tràn về góp phần rửa mặn cho vùng đất này. Nên động thái mới của Lào sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của hàng triệu người dân khi phải giải quyết bài toán khó rửa mặn cho vùng đồng bằng này trong thời gian sắp tới. Theo đó, Việt Nam rất có thể sẽ phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng mới về việc làm, sản lượng lúa trong thời gian tới.

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

CÁI KẾT NHỤC NHÃ CỦA MỘT VIÊN TƯỚNG GIẾT NGƯỜI DÃ MAN

    Mọi người đều biết đến tướng Nguyễn Ngọc Loan trong bức ảnh đã hành quyết một chiến sỹ MTGP ngay giữa đường phố Sài Gòn, nhưng có lẽ ít người biết rằng chỉ không đầy 4 tháng sau đó cuộc đời binh nghiệp của NNL đã kết thúc một cách bhu5c nhã và có lẽ lại càng ít người biết ai là người đã “giết chết” Loan.   
    Nguyễn Ngọc Loan là Ai?
Tướng Nguyễn Ngọc Loan, hỗn danh “Sáu Lèo”, sinh năm 1930 tại Huế. Chị cả của ông, bà Bích Hồng, là phu nhân Đại tá Bác sĩ Văn Văn Của, nguyên Đô trưởng thành phố Sài Gòn (1965-68) . Loan học trường Trung học Albert Sarraut và đậu Tú tài Toán toàn phần rồi bị động viên đi học Khóa 1 Sĩ quan Trừ bị (Nam Định). Rồi theo học Trường Sĩ quan Không quân Pháp Salon de Provence, năm 1953, trở thành phi công khu trục phản lực đầu tiên của Không lực VNCH. Về nước, ông được bổ nhiệm làm Phi đoàn trưởng Phi đoàn 2 Quan sát. Được thuộc cấp nể trọng nhưng ông không được các sĩ quan Cố vấn Hoa kỳ ưa thích vì ông hay đả kích lề lối làm việc máy móc của họ.
Năm 1964, ông Loan thăng cấp Đại tá “Tư lệnh Phó Không Quân VNCH” dưới quyền Tư lệnh, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ. Năm 1965, vinh thăng Chuẩn tướng, ông tham dự chiến dịch không kích Bắc Việt trong khu vực Đồng hới – Vĩ tuyến 17 (Bến Hải).
Những năm kế tiếp, tướng Loan được đề cử đảm nhiệm 3 chức vụ an ninh, tình báo quan yếu của VNCH:
– Đặc ủy trưởng, Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo
– Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, và
– Cục trưởng Cục An Ninh Quân Đội.
Lòng tận tụy với trách nhiệm nặng nề và tính “bất cần đời” của tướng Loan, coi cái chết “như pha” tạo cho ông một cá tính gồ ghề.
Tuy nhiên, Định Mệnh dường như đã an bài cho ông một số phận khắc nghiệt. Chỉ nội trong ngày 31 tháng 1 năm 1968, sự nghiệp của ông được kể như chấm dứt vì một hành động làm cho người Mỹ coi ông là kẻ phản bội.
Trong sự kiện Tết Mậu Thân 1968, ngay giữa đường phố Sài Gòn, tướng Nguyễn Ngọc Loan đã cầm súng bắn thẳng vào đầu một tù binh đặc công quân Giải phóng với hai tay đang bị trói . Vụ việc được ký giả Eddie Adams nhanh tay chụp được. Cùng lúc ấy, phóng viên đài ABC của Úc là Neil Davis cũng quay phim rất rõ ràng. Tướng Loan cầm khăn lau mặt, vẫy tay kêu các tùy tùng tránh ra, đi đến bên Bảy Lốp, không nói 1 lời, Loan quăng điếu thuốc và móc khẩu súng lục ra. Ông lấy tư thế của 1 xạ thủ, cánh tay phải giơ thẳng và, ở khoảng cách khoảng 1 mét, bắn vào thái dương của người tù binh.
Nhiều sử gia đều tin rằng tấm hình nổi tiếng một thời của Eddie Adams đã kết liễu cuộc đời binh nghiệp của tướng Nguyễn Ngọc Loan. Không sai, nhưng chỉ đúng một nửa. Chính nhiếp ảnh gia đoạt giải Pulitzer của AP này đã viết trong tuần báo TIME: “Ông tướng giết Việt Cộng bằng súng; tôi giết ông tướng bằng máy chụp hình của tôi”. Đó là tấm hình chụp tướng Loan thản nhiên hành quyết một tù binh bị còng tay sau lưng. Một hành vi sát nhân ghê tởm gây chấn động toàn thế giới. Và bức ảnh cũng dường như đã làm tăng dư luận phản chiến nở rộ tại Hoa kỳ khiến Tổng thống Johnson mất niềm tin vào một chiến thắng quân sự tại miền Nam Việt Nam. Và cuộc thương thảo với Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Việt Nam (MTGPMN) đã diễn ra sau đó dưới triều đại Nixon như giải pháp duy nhất đem lại hòa bình.
Đằng sau tất cả những sự kiện lịch sử ấy là chuyển động âm thầm nhưng có ảnh hưởng quyết định của tình báo chiến lược.

    Tòa Đại sứ Hoa kỳ rơi vào tay Đặc Công CSVN
Tổng thống Lyndon B. Johnson được Đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker bảo đảm rằng Sài Gòn là thủ đô an toàn và Tòa Đại sứ Hoa kỳ ở Saigon là khu vực an ninh 100% không bao giờ bị tấn công vì đây sẽ là địa điểm mật đàm đã được thỏa thuận giữa Hoa kỳ và MTGPMN.
Tuy nhiên, trong trận mở màn Chiến dịch Tổng Tấn Công – Tổng Khởi Nghĩa của CSVN, một biến cố ít ai biết đến, kể cả báo chí Mỹ, là Tòa ĐS Hoa kỳ đường Thống Nhất đã rơi vào tay Đặc công CS ngay những phút đầu. Đó là hậu quả của việc tướng Loan đã cho rút 2 trung đội Cảnh Sát Dã Chiến bảo vệ bên ngoài TĐS Mỹ về tăng cường cho Dinh Độc Lập.
Diễn tiến: Tổ C-10 gồm 18 tên đặc công CS thuộc Tiểu đoàn Đặc công 276 của Đặc Khu Ủy Sài gòn – Chợ Lớn đã xuất phát lúc 1 giờ đêm 31 tháng 1, 1968 từ tiệm Phở Bình đường Yên Đổ, góc Hai Bà Trưng. Hai giờ sáng, xe dừng trước cửa sau Tòa ĐS đường Mạc Đĩnh Chi lúc đó chỉ có một tiểu đội Quân Cảnh Mỹ giữ an ninh phía trong. Đặc công CS chia làm 6 mũi khai hỏa tấn công. Họ dùng bộc pha, B-40 và AK-47 báng xếp triệt hạ vọng gác của Cảnh sát QG đặt giữa Lãnh sự và tòa nhà chính. Nhưng vọng gác này đã bỏ trống từ chiều hôm trước cùng lúc với hai trung đội Cảnh Sát Dã Chiến, theo lệnh của tướng Loan.
     Mười hai giờ khuya (12 giờ trưa Washington, D.C.), tại trụ sở CIA, Giám Đốc Richard Helms đang khoản đãi ông William Colby, tân Giám đốc CORDS Việt Nam. Giữa tiệc, một thiếu tá tùy viên hối hả xin gặp để trình một công điện Hỏa Tốc từ MACV: “Trụ sở CIA và Sứ quán Hoa kỳ Saigon đã lọt vào tay đặc công MTGPMN từ 1 giờ sáng 31 tháng 1, 1968”. Cùng lúc, Tòa Bạch Ốc cũng nhận được công điện hỏa tốc: “Saigon đang bị 5 tiểu đoàn địa phương MTGPMN tấn công ồ ạt. Tòa ĐS ở trung tâm thủ đô thất thủ. Bộ Tư Lệnh MACV và Bộ TTM/QLVNCH tràn ngập khói súng, chống trả yếu ớt vì bị bất ngờ”.
Giám đốc CIA Richard Helms đọc công điện 3 lần vẫn cả quyết với quan khách: “Đây là những ‘điều giả tưởng’ không thể nào có thể xẩy ra được với Hoa kỳ”.
Sáu giờ sáng, một đại đội xung kích thuộc Sư đoàn Không kỵ 101 được trực thăng vận đổ xuống từ nóc Tòa ĐS, đột nhập Lầu 3 rồi Lầu 2, cận chiến với 12 đặc công CS, giải tỏa Tòa ĐS — biểu tượng của sức mạnh Hoa kỳ tại Đông Nam Á.
Đồng thời cũng có những báo cáo cho rằng tướng Loan đã cố ý cho tấn công những ngôi nhà an toàn ven đô Sài Gòn theo thỏa thuận của Mỹ và MTGPMNVN, làm cơ sở giao dịch mật đàm giữa 2 bên.

    CIA ra lệnh thủ tiêu Nguyễn Ngọc Loan
Tháng 4 , 1968, Cố vấn trưởng Cảnh sát Quốc gia VNCH, J. Accompura (nguyên đại tá Lục quân Hoa kỳ) được mời đến gặp vị tân Trưởng Trạm CIA (Station Chief) tại VNCH, ông George Weisz đến thay thế ông Jorgensen. Không úp mở, ông Weisz cho Accompura hay: “Chính phủ Hoa kỳ quyết định thủ tiêu Tổng Giám Đốc Cảnh Sát QGVN, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan”.
Mặc dầu làm cố vấn cho tướng Loan chưa được 2 năm, Accompura lại rất thân tình và cảm mến ông. Accompura dấu kín chuyện CIA sẽ thủ tiêu ông, nhưng yêu cầu tướng Loan không được rời khỏi Dinh Độc Lập và không được tham gia bất cứ trận đánh nào có mục đích tiễu trừ các lực lượng MTGPMN tại trung tâm và ven đô Sài Gòn.
Tướng Loan hứa xuông với Accompura cho qua chuyện, nhưng ông không ngồi yên.
Ở đâu có tiếng súng AK-47 là ông nhào tới. Chỉ cần một tấm áo giáp, một khẩu M-16, với 12 băng đạn 5.56 ly vòng quanh bụng, đầu không nón sắt, chân dép cao su, không lon không lá, tướng Sáu Lèo lâm trận…
Nhiều người coi ông như “người hùng đơn độc”.
Đầu tháng 5, 1968, hay tin VC tràn về khu Tân Cảng, tướng Loan điều động 2 đại đội CS Dã Chiến truy kích Tiểu đoàn Thủ-Biên MTGPMN. Hay tin tướng Loan dẫn CSDC ra Tân Cảng, Accompura vội nhẩy xe Jeep Cảnh sát chặn đoàn xe của ông Sáu Lèo ở ngã tư Dakao – Phan Thanh Giản và yêu cầu ông cùng về Tổng Nha tham dự buổi họp Chương Trình Phượng Hoàng do W. Colby chủ tọa. Sáu Lèo từ chối.


   Tin tức loan tải: 11 giờ 45 ngày 7 tháng 5, 1968, một tên VC núp dưới chân cầu Sài Gòn bắn sẻ viên đạn “dum dum”  phá vỡ nát bắp chân trái tướng Nguyễn Ngọc Loan.
Nhưng các bác sĩ giải phẫu tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, sau khi khám vết thương, nêu thắc mắc và khẳng định:
– Đầu đạn phá nát bắp chân trái tướng Loan không phải là “dum dum”. Nếu phải thì nó phải để lại những mảnh li ti và dấu vết thuốc nổ khi đầu đạn nổ lần thứ 2.
– Súng xung kích AK-47 của CS Bắc Việt sử dụng ở miển Nam không trang bị loại đạn “dum dum”.
– Súng bắn sẻ CKC của Tiệp Khắc cũng không trang bị đầu đạn “dum dum”.
– Đầu đạn AK-47 và CKC không phải là đạn xuyên phá. Loại đạn này chỉ tạo 1 lỗ nhỏ đường kính không quá 1 cm ở mặt trước vết thương, và mặt sau ít khi có lỗ rộng quá 5 cm.
Có lẽ chỉ có cố vấn Accompura biết rõ viên đạn làm tan nát cuộc đời binh nghiệp của tướng Loan là loại đạn gì. Và sát thủ là ai?

    Gần 40 năm sau, năm 2005 màn bí mật cũng được vén lên, bởi không ai khác là chính Accompura. 
   Sát thủ thi hành bản án tử hình tướng Loan là một hạ sĩ quan TQLC Hoa kỳ có vợ Việt Nam, làm việc cho CIA Sài Gòn. Khẩu súng bắn lén tướng Loan là M-16 gắn viễn vọng kính. Viên đạn M-16 cỡ 5.56 mm thuộc loại Flechette. Chi tiết được biết thêm:
Sát thủ đứng trên sàn trực thăng võ trang UH-1B, qua viễn vọng kính đã lẩy cò khi chiếu môn thập tự [+] nhắm trúng đầu tướng Loan. May thay,“Thiên bất dung gian”, người không thể giết người, chỉ có Trời mới giết được người. Lúc sát thủ lẩy cò cũng vừa là lúc trực thăng gặp vùng giảm áp, nên  hụt hẫng đưa viên đạn trúng bắp chân trái Sáu Lèo đang gác trên thành cầu thay vì trúng đầu ông. Viên đạn Flechette 5.56mm đã phá nát bấy toàn thể bắp chân trái tướng Loan, cắt đứt gân lòng thòng và động mạch tiếp máu cho bàn chân.
Bác sĩ Trưởng Khoa Giải Phẫu Tổng Y Viện Cộng Hòa đề nghị cắt bàn chân bởi vì động mạch đã bị phá nát, nếu không, một thời gian ngắn bàn chân sẽ bị hư thối.
Tướng Loan yêu cầu, bằng mọi cách, giữ lại bàn chân trái cho ông.

     Ảnh hưởng tiêu cực của tấm hình hay do lệnh CIA?
     Bác sĩ cố vấn trưởng Tổng Y Viện đề nghị đưa tướng Loan đến điều trị tại Bệnh viện Quân Y Mỹ tại Long Bình. Giám đốc Bệnh viện từ chối vì không có khả năng nối động mạch vi ti ở bắp chân.
    Tướng Kỳ yêu cầu MACV can thiệp với Hạm Đội 7 có tầu bệnh viện đón nhận tướng Loan để chữa trị. Tầu Bệnh Viện Đệ Thất Hạm Đội từ chối.
Chính phủ VNCH yêu cầu Tòa Đại sứ Hoa kỳ giúp đỡ đưa tướng Loan đến Bệnh viện Jama trên đất Nhật. Tòa Đai sứ Hoa kỳ khước từ.
Không thể trông cậy vào Đồng minh Hoa Kỳ giúp đỡ, tướng Kỳ cuối cùng nhờ đến Tòa Đại sứ Úc chấp thuận cho tướng Loan được điều trị tại Canberra. Chính quyền Canberra khước từ lời yêu cầu của VNCH, viện cớ dư luận dân chúng Úc không đồng tình chứa chấp một kẻ giết tù binh chiến tranh không vũ khí trong tay.
Tướng Loan giải ngũ, trở lại đời sống dân sự. Tướng Kỳ mất một người vừa là bạn thân, vừa là quân sư lỗi lạc trong cuộc đời tham chính của mình.

Hoa kỳ không giết chết được Loan nhưng vẫn căm tức “Sáu Lèo” một lúc phá hỏng hai giải pháp chính trị và quân sự của Mỹ tại Việt Nam. Họ quả quyết: “Nếu Loan không rút 2 trung đội Cảnh sát Dã chiến bảo vệ Sứ quán ở đường Thống Nhất thì không tài nào tổ đặc công C-10 của MTGPMN có thể xâm nhập thành lũy tối cao và kiên cố nhất của Mỹ, làm ô danh siêu cường số 1 thế giới”.
      Ngoài ra, sau này, CIA Mỹ còn nghi ngờ tướng Loan vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975, đã dùng uy tín cá nhân để mưu đồ kìm chân hàng ngàn người Mỹ di tản để làm con tin buộc Mỹ phải quay lại tham chiến. Điều này được lý giải tại sao Mỹ phải cho ưu tiên di tản những phi công khu trục sang Utapao, Thái Lan, bởi vì QLVNCH chỉ cần vài chiếc F-5 là có thể bắn hạ những trực thăng di tản rơi rụng như sung.  Nhưng có thể mọi việc chỉ dừng lại ở ý tưởng, chưa có hành động. Rốt cuộc, trưa ngày 29 tháng 4, năm 75, tướng Loan và gia đình đã phải chật vật lắm mới leo lên được một vận tải cơ C-130 và tới Utapao lúc 16:00 giờ chiều.

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2015

Ai là tác giả của những thước phim lịch sử về ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình


Trước năm 1975, chúng ta chỉ có ảnh về ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Năm 1975, đạo diễn Phạm Kỳ Nam sang Pháp để thực hiện quay bộ phim "Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh". Khi ông đang ở Paris, bất ngờ nhận được một hộp bọc kín, người gửi chỉ nhờ lễ tân khách sạn nhắn với đạo diễn Phạm Kỳ Nam rằng "đây là quà tặng do một người bạn của Việt Nam chuyển đến" và không cho biết tên[3].
Khi mở ra, đạo diễn Phạm Kỳ Nam rất ngạc nhiên khi nhận ra món quà đó là những thước phim 16 ly ghi lại hình ảnh đen trắng trọn vẹn ngày lễ Tuyên bố Độc lập tại quảng trường Ba Đình[2].
Những đoạn phim đã được đạo diễn Phạm Kỳ Nam ráp nối lại thành một bộ phim tài liệu dài khoảng 30 phút[4] và được đặt tên Ngày Độc lập 2/9/1945[1]. Nội dung phim quay lại cảnh quảng trường Ba Đình vào ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, với hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọcbản Tuyên ngôn Độc lập trước đông đảo người dân. Bộ phim được chiếu rộng rãi trên truyền hình quốc gia, được nhiều người biết đến và xem lại nhất là vào dịp quốc khánh của Việt Nam[1].

Tìm kiếm tác giả
Theo ông Nguyễn Hữu Đang, người được Hồ Chí Minh giao trách nhiệm làm Trưởng ban tổ chức Lễ Tuyên bố Độc lập[4], thì có 2 giả thiết về tác giả của những thước phim
Hương Ký
Ông Hương Ký (tên thật là Nguyễn Lan Hương) - chủ một hiệu ảnh nổi tiếng tại Hà Nội thời đó, chuyên làm những dịch vụ về quay phim tư liệu. Theo yêu cầu của ông Nguyễn Hữu Đang, ông Hương Ký và 2 nhân viên đã thực hiện việc quay buổi lễ. Nhưng sau buổi lễ, ông Hương Ký thông báo không quay được vì sự cố máy móc. Ông Nguyễn Hữu Đang sau này có viết về sự cố này với thái độ hoài nghi vì chỉ một thời gian sau đó, ông Đang phát hiện ra chủ hiệu Hương Ký đã đi theo Quốc dân đảng chống lại Việt Minh[5].
Có một số căn cứ để giả thiết những thước phim này là do hiệu Hương Ký quay[4]. Rõ nhất là dựa vào một tấm ảnh do ông David Marr, nhà nghiên cứu sử học Úc gốc Mỹ, cung cấp và theo ông bức ảnh cũng do người Mỹ chụp[6]. Tấm ảnh này có góc chụp từ dưới hướng lên lễ đài, hình Chủ tịch Hồ Chí Minh đang đọc Tuyên ngôn Độc lập, đứng bên phải ông có một người cầm ô và chi tiết cần chú ý là phía bên trái có một người cầm máy quay phim hướng ống kính về phía ông Hồ. Thể hiện này ứng với đoạn phim quay cảnh Hồ Chí Minh đang đọc Tuyên ngôn nhìn nghiêng[7].
Phái bộ tiền trạm OSS
Phái bộ tiền trạm OSS (Office of Strategic Services - Cơ quan phục vụ chiến lược Mỹ), bí danh Con Nai - "The Deer" do Thiếu tá Archimedes Patti, nguyên trưởng phái đoàn Mỹ đến Hà Nội dưới danh nghĩa Đồng minh][6]. Theo như hồi ký của Thiếu tá Archimedes L.A. Patti, ông đã tường thuật cuộc mít-tinh vào ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình với nhiều chi tiết mà cho tới nay, sách báo Việt Nam chưa từng nhắc đến. Ông đã mô tả chính xác công việc ông và một số nhân viên chứng kiến buổi lễ, đi lại trong khu vực mít-tinh để chụp ảnh và quay phim.
Sự miêu tả này của Thiếu tá Patti đã khiến ông Nguyễn Hữu Đang, người chịu trách nhiệm chính điều hành buổi lễ và kiểm soát cuộc mít-tinh, cho rằng "bất ngờ vì ông cũng không biết có những hoạt động của người ngoại quốc ngay trước mắt mình".[5]
Theo một số chuyên gia, những thước phim trên được quay rất chuyên nghiệp và nhiều góc độ khác nhau chứng tỏ người quay phim đã di chuyển liên tục trong khi quay để quan sát rồi ghi lại chứ không phải chỉ cầm máy đứng yên một chỗ[7].

.